Saturday, 31 March 2012

“CHẠY CHỨC, CHẠY QUYỀN”





Trong một xã hội mà cơ chế chọn lãnh đạo không công khai, minh bạch, nạn chạy chức chạy quyền luôn tồn tại.

Câu hỏi đặt ra là người chạy chức quyền này sẽ cậy tới ai?
Trả lời câu hỏi này không phải đơn giản, vì mọi việc cần phải có chứng cứ, mà chứng cứ chạy chức chạy quyền ở xứ ta thì rất khó mà tìm ra.
Như ông Bộ trưởng Nội vụ trả lời trước UBTV Quốc hội vừa rồi đã cho thấy rõ điều đó.
Khi chứng minh được một cách trực tiếp, thì sẽ dùng cách gián tiếp, hay suy luận vậy.

Nhà nước của ta được ghi rõ rành rành trong các văn kiện là “nhà nước của dân, do dân, vì dân”; “tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân”, “ dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”...
Một người muốn làm ông to, bà lớn ở xứ ta chắc phải được dân tin yêu, lựa chọn và bầu lên. Như vậy, khi có được lòng dân ủng hộ, người đó chắc chắn sẽ có một vị trí, xứng đáng được giao quyền lãnh đạo. Đó là  người dân giao quyền lãnh đạo đại diện của họ cho người được dân bầu chọn.

Để được dân lựa chọn, người đó phải hiểu nỗi đau của dân, biết sự nghèo và hạnh phúc của dân, rành tâm tư nguyện vọng của dân, và trong công vụ  họ phải luôn luôn hướng tới mục tiêu phục vụ dân; thương dân, yêu quí dân,  trọng dân, giúp dân và dưỡng dân...

Mà thực ra đã những người có bản chất như vậy, họ sẽ không có tâm tưởng chạy chức, chạy quyền. Vì khi là con của dân, coi dân như phụ mẫu, lấy việc công bộc cho dân làm niềm vui thì không có niềm hạnh phúc là được phụng sự để cho dân được no ấm, yên vui, an lành. Được như thế, chức vụ có nghĩa lý gì; bổng lộc,vàng bạc, tiền của đâu có sánh được với tình cảm và sự ủng hộ của  người dân dành cho các cán bộ mẫn cán. Chính những cán bộ này, nếu có cơ chế rõ ràng và minh bạch, chắc chắn sẽ được dân tin yêu trao trọng trách lớn gánh vác giang sơn. Cán bộ này - trừ loại mị dân - chắc chắn sẽ không cần chạy chọt ở đâu cả. Dân hiểu hết, biết hết.

Chỉ những người không thực sự vì dân, mới chạy chức chạy quyền. Đó là ai chắc chắn người dân cũng biết rõ. Chỉ vì chưa thực sự có cơ chế bảo vệ khi họ nói ra sự thực.

“Độ vênh” giữa nghị quyết và thực tế là lớn như vậy đó! Khi nào còn “độ vênh” này, nạn chạy chức, chạy quyền chắc chắn chưa chấm dứt.


PVH

Thursday, 29 March 2012

VĂN HÓA UỐNG CAFÉ CÚA NGƯỜI VIỆT


Không biết từ bao giờ, café đã trở nên gần gũi và quen thuộc trong nhịp sống mỗi ngày của người dân Việt. Sự tinh tế của café Việt thể hiện nét văn hóa và phong cách thưởng thức café khác lạ cuả người Việt. Uống café chúng ta có thể cảm nhận được nhiều hương vị đặc trưng khác nhau như cái vị đăng đắng, đầm đậm bên đầu lưỡi, mùi hương hạnh nhân, mùi đất lan tỏa bên tách café khiến cho người ta phải ngất ngây và cứ như thế café đi vào lòng người Việt một cách đằm thắm nhẹ nhàng và lâng lâng ấy.

Café là thức uống tuyệt vời có thể đem lại cảm giác sảng khoái, thi vị khi thưởng thức vào buổi sáng sớm trước khi làm việc, khi gặp gỡ bàn chuyện làm ăn với đối tác, khi trò chuyện cùng bạn bè, người thân, người yêu hay khi giải trí. Có thể nói café đóng góp một phần không nhỏ trong cuộc sống, trong công việc của mỗi người.

Gu thưởng thức của người Việt là đậm, đắng, thơm mùi hạnh nhân, mùi đất. Tùy mỗi một loại café mà mang lại cho người thưởng thức cái cảm nhận về vị chua, độ dầu và mùi hương của các loại hoa trái khác nhau. Một ly café ngon là ly café đậm đà hương vị tự nhiên, có độ chua thanh tươi, sạch lưỡi, có độ dầu đậm và đặc biệt hơn là toara mùi hạnh nhân, hoa trái, bơ dầu và mùi đất.

Café phin được coi là thứ thức uống được ưa thích nhất của người Việt. Cái cảm giác ngồi chờ đợi từng giọt café rơi thật là thú vị. Càng thú vị hơn nữa khi được nhâm nhi thành quả của nó, có thể là một tách café đen nóng, có thể pha thêm chút sữa, uống nóng hay uống đá tùy theo sở thích của mỗi người.

Ngày nay, cách mà người Việt thưởng thức café rất đa dạng ở từng mọi nơi mọi lúc từ những quán café có không gian sang trọng, đắt tiền cho đến những quán café bình dân, mộc mạc hay thậm chí là những điểm café cóc bên vệ đường hiện rất được giới trẻ Huế đặc biệt ưa chuộng bởi không gian thoáng mát, rẻ, không chỉ phù hợp với túi tiền, mà còn có thể tự do thoải mái nói chuyện mà không bị người khác để ý và vừa được ngắm cảnh đường phố với những dòng người ồn ào, đông đúc đi làm Buổi sáng, buổi chiều dạo quanh một vài con đường trong TP Huế là người ta có thể bắt gặp ngay hình ảnh những nam thanh nữ tú hay những bác công nhân, xe thồ, xích lô đủ mọi tầng lớp đều cùng nhau nhâm nhi, thưởng thức hương vị café sau một ngày làm việc vất vả

Nói đến café cóc ở Huế, nhiều người sẽ thấy chúng có những nét tương đồng với các quán nước chè đầu phố của Hà Nội hay cà phê cóc Sài Gòn bởi vì cũng được bày bán tại những vỉa hè. Gọi là quán cho thuận miệng, chứ thật ra cà phê cóc chỉ có một chiếc ghế nhỏ, vài chai cà phê đã pha sẵn, đường, hộp sữa đặc, ít đá và vài cái ly nhựa hoặc thủy tinh được xếp trên các vỉa hè hay góc phố; có những quán ở đường Tôn Đức thắng thậm chí không có cả ghế, cứ trải một tờ giấy báo (người dân thường gọi vui là “ghế xoay”) là đã có một chỗ ngồi "ngon lành". Uống cà phê cóc cũng là một cách để bạn khám phá khẩu vị cà phê của người Huế. Cà phê cóc hè phố là một trong những đặc trưng của đất và người Huế, cởi mở và khoáng đạt từ con người, ly cà phê đến chỗ ngồi cà phê.

Có thể nói, với nhịp sống hối hả tất bật như hiện nay, thì việc thưởng thức hương vị đậm đà, bốc ra từ những cốc café nghi ngút khói hay những cốc café sữa đá dưới thời tiết nóng bức của mùa hè sẽ phần nào giúp người dân Việt nhanh chóng lấy lại tinh thần cho một ngày mới tốt lành và đầy thi vị hơn, và là gạch nối giữa niềm vui và nỗi buồn.

N.T        

Tuesday, 27 March 2012

HÌNH TƯỢNG BÁC MAO





Đối với lứa tuổi của chúng tôi hồi nhỏ, Bác Mao giống như Bác Hồ. Đơn giản vì các hình của hai lãnh tụ này  in bằng lụa được bán đầy các hiệu sách, trong nhà tôi không hiểu sao lại có 4-5 tấm hình của hai cụ. Họa báo Trung Quốc những năm 70 in bằng tiếng Việt rất đẹp có nhiều hình ảnh cụ Mao và cụ Hồ.

Đến cuối năm 1978 khi quan hệ 2 nước Việt – Trung căng thẳng thì các tấm hình của cụ Mao tự nhiên bị mọi người gỡ đi, không còn treo công khai trong nhà nữa.
Khi chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra thì truyền thông  trong nước kịch liệt đả kích tư tưởng Mao và tính bành trướng hiếu chiến của Đặng Tiểu Bình.

Sau đó hai bên căng thẳng đấu pháo qua lại thêm một thời gian thì nhiều tài liệu về Cách Mạng Văn Hóa và Thân thế sự nghiệp của Mao được bày bán công khai ở các hiệu sách, đăng tải trên báo chí và các tài liệu tuyên truyền khác.

Đầu những năm 90, khi đảng, chính phủ hai nước bắt đầu tiến tới bình thường hóa quan hệ, các chỉ trích về Mao giảm bớt, và coi như rút lui hoàn toàn cho tới những năm gần đây.

Nhưng do việc phát triển của internet, những người quan tâm tới sự nghiệp của Mao vẫn có thể tìm đọc được những thông tin giá trị, chân thực, mà dù cố gắng đến mấy truyền thông trong nước cũng chưa đăng tải hết trong thời kỳ có xung đột quân sự và bộ máy tuyên truyền hết cũng đã chạy hết công suất.

Hồi ký của Lý Chí Thỏa, bác sĩ riêng của Mao đã hé lộ nhiều thông tin cực kỳ quan trọng trên nhiều góc nhìn về “người cầm lái vĩ đại của Trung Hoa hiện đại”.

Gần đây, sự hiện ông Bạc Lai Hy- thị trưởng Trùng Khánh- Trung Quốc bị cách chức có liên quan nhiều đến tư tưởng và hình ảnh của Mao trong tiến trình “cách mạng không ngừng”. Hình tượng Mao được nhiều người đào xới, xét lại.

Riêng bản thân tôi, với quá trình nhận thức lâu dài, có thể đi đến kết luận: Hình tượng bác Mao như là một bóng ma, có biến hóa rất phức tạp. Nhân vật này sẽ còn ảnh hưởng đến lịch sử Trung Quốc và các nước lân bang trong một thời gian rất dài.



PVH

Monday, 26 March 2012

PHỔ BIẾN KIẾN THỨC PHÁP LUẬT

 
Năng lực pháp luật dân sự
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
            Điều 14 BLDS 2005 quy định:
1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.
2. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.
3. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết
   Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
a. Khái niệm và đặc điểm
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân  được hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ dân sự. Năng lực pháp luật dân sự là khả năng, là tiền đề và là điều kiện cần thiết để tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự. Khả năng này được pháp luật ghi nhận cho tất cả cá nhân từ lúc sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó chết hoặc bị tuyên bố là đã chết. Năng lực pháp luật là một mặt của năng lực chủ thể của cá nhân.
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có những đặc điểm sau:
+ Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân do Nhà nước qui định trong các văn bản pháp luật mà nội dung của nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội vào hình thái kinh tế - xã hội tồn tại một thời điểm lịch sử nhất định. Do vậy, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không phải do tạo hoá sinh ra mà do mỗi Nhà nước nhất định ghi nhận, qui định cho cá nhân của họ; ở những hình thái kinh tế - xã hội khác nhau thì năng lực pháp luật dân sự được qui định khác nhau.
+ Trong cùng một hình thái  kinh tế - xã hội song những quốc gia khác nhau thì năng lực pháp luật dân sự của cá nhân khác nhau. Trong cùng một quốc gia, cùng một hình thái kinh tế - xã hội nhưng vào những thời điểm lịch sử nhất định năng lực pháp luật dân sự của cá nhân cũng được qui định khác nhạu.
+ Mọi cá nhân đều bình đẳng về năng lực pháp luật dân sự. Khoản 2 Điều 14 BLDS qui định: "mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau”. Qui định này xuất phát từ Hiến pháp là mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế bởi bất cứ lý do nào, các cá nhân đều bình đẳng về việc hưởng quyền và gánh vác các nghĩa vụ dân sự không phụ thuộc vào khả năng nhận thức, thể chất,...
Có ý kiến cho rằng năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không thể bình đẳng bởi lẽ, có nhưng trường hợp cá nhân chỉ bình đẳng về khả năng hưởng quyền mà không bình đẳng về gánh vác các nghĩa vụ dân sự (như trường hợp người mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi gây thiêt hại cho người khác,... ). Tuy nhiên, theo qui định  của pháp luật họ không thể gánh vác nghĩa vụ trực tiếp nhưng những người khác vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thay thông qua người giám hộ bằng tài sản của chính người được giám hộ; hơn nữa nếu theo quan điểm này thì ngay cả khả năng hưởng quyền cũng không bình đẳng vì các giao dịch dân sự liên quan do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
+ Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là một thuộc tính nhân thân không thể chuyển dịch. Năng lực pháp luật dân sự do pháp luật qui định, Nhà nước không cho phép cá nhân tự hạn chế năng lực pháp luật dân sự của mình hay hạn chế năng lực pháp luật dân sự của người khác.
+ Tính bảo đảm của năng lực pháp luật dân sự. Nhà nước luôn tạo điều kiện để cho ”khả năng” trở thành những quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể thông qua các qui định của pháp luật.
Đ.N

Friday, 23 March 2012

TINH THẦN KAIZEN CỦA NHẬT BẢN




Nhật Bản nổi tiếng bởi tinh thần Samurai – võ sĩ đạo. Đó là tinh thần thượng võ, cao thượng, hào hiệp, bảo vệ lẽ phải và người yếm thế. Sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn và giữ tròn chữ trung, tín.
Tinh thần đó hiện nay vẫn được duy trì, song, trong quá trình phát triển kinh tế, hội nhập thế giới từ sau cách mạng Minh Trị - người Nhật bổ sung thêm tinh thần Kaizen.

Kaizen theo tiếng Nhật có nghĩa là “cải thiện”, “nâng cấp cái sẵn có”, không bằng lòng với điều sẵn có vốn được cho rằng đã rất hoàn hảo.

Người Nhật vốn rất ham học hỏi, thời Minh Trị Thiên Hoàng, ông đã có chính sách gửi những người ưu tú đi học hỏi kinh nghiệm ở các nước Phương Tây, sau đó áp dụng điều đã học được vào việc tái kiến thiết kinh tế, xã hội, chính trị nước nhà. Chính bởi tinh thần đó, chỉ trong vòng 30-35 năm từ năm 1868, nước Nhật đã bắt kịp các tư bản phương Tây về kỹ thuật, và vượt một số nước về phương diện quân sự. Năm 1904, chiến tranh Nhật – Nga ở cảng Lữ Thuận cho thấy người Nhật đã tự tin và tiến bộ như thế nào về kỹ thuật.

Tinh thần Kaizen chắc đã hình thành từ lâu đời nhưng trong điều kiện bắt buộc phải phát triển nhanh chóng để không bị thôn tính bởi ngoại bang, người Nhật bị thúc ép phải cố gắng miệt mài hơn bao giờ hết từ sau cách mạng Minh Trị.

Học hỏi từ Phương Tây nhưng phải làm tốt hơn Phương Tây. Mỗi một cá nhân Nhật bản hình như được cài sẵn gene Kaizen trong người từ khi mới ra đời. Trong tư tưởng của họ, không có cái gì là toàn mỹ, vì vậy khi nào cũng có có cơ hội để cải thiện và bổ sung cái cho rằng đã “toàn mỹ” đó. Chúng ta hãy cùng nhau đọc lại bài báo dưới đây để biết thêm thông tin:

Tất nhiên, không phải ý tưởng Kaizen nào trong mỗi công ty, nhà máy, tổ chức, doanh nghiệp... cũng đều được áp dụng, nhưng điều đó không làm nãn lòng người Nhật. Trong bất cứ hoàn cảnh nào người Nhật vẫn suy nghĩ, tìm tòi để cải thiện tình trạng vốn có của vấn đề mà họ quan tâm.

Hình như người Nhật luôn có đề án  Kaizen trong mỗi tuần làm việc. Họ báo cáo lên cấp trên, trong khi chờ đợi hồi âm, họ lại suy nghĩ tới vấn đề khác cần phải được Kaizen để có thể có một Kaizen mới báo cáo trong tuần tới.

Ơ Nhật Bản mỗi một doanh nghiệp, tổ chức...... thường có một Ban Kaizen, Ban này thường tổng hợp ý kiến của nhân viên, tuyển chọn hoặc đề nghị phát triển ý tưởng Kaizen có giá trị thực tiển cho đến khi áp dụng được. Ban Kaizen thường có  hồi âm cho nhân viên đã gửi báo cáo Kaizen.

Hàng năm, một buổi tổng kết về các Kaizen thường được tổ chức, những Kaizen được tuyển chọn để áp dụng vào thực tế sẽ được khuyến lệ, có thể phần thưởng không lớn nhưng với việc này người có ý tưởng sẽ rất vinh dự khi được vinh danh trước toàn thể nhân viên của tổ chức.

Nhiều khi chúng ta tưởng tượng một ý tưởng Kaizen phải là gì ghê gớm lắm, phải có trình độ cao lắm mới làm được, thực ra thì chỉ cần có óc quan sát và một tinh thần Kaizen kiểu Nhật Bản, nếu chuyên tâm ai cũng sẽ có ý tưởng Kaizen.
Ví dụ:
- Điều chỉnh các tư thế ngồi làm việc hoặc các tư thế đứng khi thao tác máy;
- Điều chỉnh lại qui trình công việc theo một thứ tự hợ lý và tiết kiệm thời gian hơn;
- Bố trí, bày biện, sắp xếp lại nơi làm việc để không mất thời gian khi tìm kiếm tài liệu hoặc vật dụng văn phòng phẩm;
- Kinh nghiệm lập kế hoạch công việc sao cho khoa học và logic phù hợp với các bộ phận khác trong tổ chức...
- Phân loại rác, giữ gìn vệ sinh chung và tiết kiệm điện nước trong văn phòng ngày qua ngày vàng tiết kiệm hơn;
- Cách thức tồn tại trong thiên tai thảm họa, và những kinh nghiệm thực tế cần phải cải tiến hơn.
- Cách nghe điện thoại và trả lời khách hàng...

Những việc liệt kê trên, rất đơn giản nhưng nếu ai cũng nói dễ và không chuyên tâm thì sẽ không bao giờ làm được đến nơi đến chốn. Và những việc tưởng chừng ít giá trị đó, khi áp dụng thường mang lại hiệu quả lớn một cách không ngờ.

Người Nhật, từng cá nhân sau đó là cả dân tộc đã làm được điều đó, trong tâm thức họ luôn có tinh thần Kaizen. Vì vậy, hàng hóa, sản phẩm có xuất xứ từ Nhật luôn được sự yêu chuộng và sự tín nhiệm của người tiêu dùng trên toàn cầu.

Từ tinh thần Samurai tiến tới tinh thần Kaizen quả là một bước tiến  dài.
Người Nhật đã làm được, còn người Việt chúng ta thì sao?


PVH

Wednesday, 21 March 2012

CHỈ SỐ CPI THẤP CHO THẤY GÌ?





CPI là chỉ số giá tiêu dùng.
Khi CPI tăng cao có nghĩa là gia tiêu dùng tháng đó, năm đó tăng cao.
Khi CPI giảm thì giá tiêu dùng tháng đó, năm đó giảm.
Thông thườngở Việt Nam chỉ số giá này được tính gộp trung bình cho 500-600 mặt hàng.  Người dân thì bao giờ cũng muốn CPI ổn định, như vậy giá cả ổn định và đời sống việc làm của người dân sẽ ổn định.

Tuy nhiên khi CPI bất ổn, tăng cao thì có dấu hiệu của lạm phát, đánh thẳng vào chi tiêu của người dân. Do giá cả tăng cao, với thu nhập không đổi - đặc biệt với dân nghèo hay người làm công ăn lương,  lượng hàng hóa, dịch vụ người dân mua được sẽ ngày càng ít đi. Chất lượng sống giảm sút, đời sống lâm vào cảnh khó khăn hơn.

CPI ổn định là điều mọi người mong muốn. Tuy nhiên, khi CPI xuống quá thấp và duy trì trong một thời gian dài, cuộc người dân cũng sẽ bị ảnh hưởng theo.

Có thể nói ngay, khi CPI xuống quá thấp một cách liên tục trong nhiều tháng, có thể nói nền  kinh tế quốc gia đó đã bước vào suy thoái. Khi nền kinh tế suy thoái, đình đốn thì đầu tư công giảm, xuất khẩu giảm, việc làm bị giảm đi, thu nhập người dân sẽ ít đi, hàng hóa tiêu dùng tuy giá có giảm nhưng người dân không có thu nhập nên không thể mua được, cả nền kinh tế lâm vào khó khăn. Thông  thường khi nền kinh tế bị giảm phát muốn vượt qua cơn suy thoái này, một nền kinh tế trung bình phải mất 2-3 năm.

Tháng 3/2012, CPI của Hà nội và TP HCM (hai thành phố động lực của nền kinh tế VN) dưới 0,2%, trong khi tháng 2 chỉ số này của cả nước trên 1,7%. Để biết được nền kinh tế có thực sự đi vào đình đốn giảm phát hay không, còn phải theo dõi thêm một thời gian.

Đây là công việc của các chuyên gia học giả về kinh tế.
Họ như một bác sĩ, chẩn bệnh cho cả một nền kinh tế, chứ không phải là một bệnh nhân. Kinh tế học hiện đại đang lấy lại thanh danh của mình là nhờ sự phân tích và dự báo những vấn đề cấp bách như vậy kèn theo các giải pháp khắc phục.
Để thoát khỏi tình trạng giảm phát, cần thực hiện chính sách tái khuếch trương tiền tệ thông qua các biện pháp như tăng lượng cung tiền, giảm thuế, hay điều chỉnh lãi suất. Tuy nhiên, các chính sách đối phó với giảm phát cũng chính là mầm móng của lạm phát. Vì vậy, các nhà làm chính sách phải hết sức cẩn trọng khi ra các quyết sách tác động vào thị trường. Thành công và thất bại chỉ cách nhau một làn ranh mong manh.

PVH

Monday, 19 March 2012

DỰ BÁO KINH TẾ




Thường thì dự báo kinh tế phải do các học  giả, chuyên gia kinh tế và các học viện, cơ quan nghiên cứu kinh tế tiến hành.

Mặt ưu điểm của các dự báo là có căn cứ cơ sở dữ liệu và sử dụng nhiều mô hình để dự báo với sai số thấp.
Mặt nhược của dự báo này là do còn phụ thuộc vào đơn vị chủ quản, phần lớn được nhà nước cấp ngân sách, nên nhiều khi các dự báo  thường đi sát với chính sách của chính phủ  và nghị quyết  phát triển kinh tế xã hội trong năm do quốc hội thông qua (thường gọi là kỳ vọng). Đó chính là sự tác động khách quan vào kết quả dự báo.

Với hiện trạng đó, dự báo của các chuyên gia độc lập được cho là khách quan nhất. Họ ít bị ràng buộc bởi điều nói ra ở trên, ngoại trừ uy tín của họ sẽ bị sụt giảm nếu dự báo trật lất kéo dài từ năm này qua năm khác.

Bài viết này cũng là một dạng dự báo không phải của chuyên gia, chỉ là sự ghi lại các ý kiến của những người bạn giữ chức vụ quản lý kinh tế một vài doanh nghiệp trong nước, liên doanh và daonh nghiệp có 100% vốn nước ngoài.

Dự báo về phát triển G D P của năm 2012, phần lớn cho rằng, với hoàn cảnh hiện tại, Việt Nam có thể đạt mức phát triển 6-6,5%, tuy nhiên nếu chính phủ điều chỉnh để kiểm soát tốc độ phát triển từ 5 đến dưới 6% là hợp lý nhất, vì còn phải tập trung để chống lạm phát. Nếu được, chỉ số  đạt 5,7% là con số đẹp nhất.

Do mục tiêu của năm 2012 vẫn là kiềm chế lạm phát, chính phủ đã nêu kỳ vọng kiểm soát chỉ số lạm phát dưới 10%, nếu được là khoảng 9%. Đạt được điều đó là một vấn đề rất nan giải, nên ghi nhớ lạm phát của năm 2011 được ghi nhận là 18%.

Nếu thách thức phải tăng G D P như nêu trên được gạt bỏ, để khống chế được lạm phát như kỳ vọng, đa số ý kiến cho rằng cần chú ý thêm tới những vấn đề sau: Trả nợ nước ngoài, chi trả lương thêm sau khi điều chỉnh, tác động của các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, kiểm soát giá điện và xăng dầu, kiểm soát tỉ giá hối đoái...Vì chỉ cần một yếu tố trong các yếu tố đã nêu biến động thì sẽ làm cho mức lạm phát tăng cao.

Trước hết về trả nợ nước ngoài, ý kiến trích dẫn từ báo chí cho rằng năm 2012 Việt Nam phải chi khoảng 20% tiền ngân sách để trả nợ nước ngoài. Đây là một tỉ lệ rất lớn. Một lượng lớn vốn thay vì được đầu tư sản xuất kinh doanh làm ra của cải vật chất cho xã hội lại đội nón đi ra xứ người. Điều này cho thấy khả năng tích lũy từ trước đến nay của nền kinh tế nước ta là khá mỏng, vì vậy tiềm lực của nền kinh tế, cái sẽ được coi là lực lượng chủ chốt để khống chế lạm phát lại không được mạnh như kỳ vọng.

Thứ hai, việc nhà nước sẽ điều chỉnh tăng lương năm 2012 dễ làm cho bội chi ngân sách tăng lên, trong khi các nguồn thu ngân sách gần như đã được tận dụng hết. Việc vay ngân nước ngoài đề bù thường được tính tới, việc này các năm trước đã làm, nhưng sẽ để lại hệ quả là gây lạm phát cho các năm sau. Và năm nay lạm phát sẽ có một phần tác động của bội chi ngân sách để chi trả tăng lương trong các năm trước.

Thứ ba, tác động của việc các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, trong đó có các doanh nghiệp  nhà nước. Năm 2009, đứng trước tình hình khủng hoảng của tài chính thế giới chính phủ VN đã đưa ra gói kích cầu tương đương khoảng 8 tỉ usd gần bằng 10% G D P hồi đó. Các đơn vị được hưởng lợi là các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân.
Tuy nhiên, do quản lý vốn của các doanh nghiệp nhà nước lớn, doanh nghiệp tư nhân lớn chưa mang lại hiệu quả thiết thực, nhiều doanh nghiệp tìm cách chạy vay vốn ưu đãi để đảo nợ hơn là đầu tư vào sản xuất, kinh doanh; hiệu quả sử dụng vốn vay thấp, một số còn nợ dây dưa chưa trả được.... do chưa có một báo cáo nào đánh giá toàn diện về hiệu quả việc sử dụng vốn kích cầu này  nên các ý kiến đều thống nhất đây cũng là một “di sản” ảnh hưởng tới tình hình kiềm chế lạm phát hiện nay.

Thứ tư, kiểm soát giá điện và xăng dầu năm 2012 rất cam go và khó dự đoán. Mới đầu tháng 3 giá xăng dầu đã tăng 10%, các chính sách áp dụng để kiểm soát không tăng giá loại nhiên liệu này đã hết. Như vậy, giá xăng đầu có tăng hay giảm trong thời gian tới không còn nằm trong tầm kiểm soátcủa nhà nước VN nữa, nó phụ thuộc vào sự tăng giảm của giá dầu thế giới. Tình hình IranSyria gần đây cho thấy một sự lo ngại ngày càng lộ dần. Do Việt Nam đang sở hữu một số lớn nhà máy nhiệt điện, do có sự tương thông về tính năng sử dụng, khi xăng dầu tăng giá thì chắc chắn điện cũng sẽ tăng giá, chỉ lâu hay mau mà thôi. Đa số ý kiến cho rằng, ở VN khi giá cả đã tăng vùn vụt, sau đó có giảm thì giảm nhỏ giọt, vì vậy qui luật cho thấy giá cả xăng dầu và điện trong năm 2012 sẽ tăng nhiều so với 2011. Sự tác động tăng CPI và lạm phát sẽ rất lớn, ảnh hưởng tới nền kinh tế là cực kỳ nhiều vì sự lan tỏa việc tăng gia mặt hàng này rất rộng.

Cuối cùng, kiểm soát tỉ giá hối đoái cho thấy có nhiều tín hiệu tích cực. Trong các tháng gần đây, tỉ giá ổn định, tỉ giá ngân hàng và chợ đen tương đương nhau, không có cơn sốt mua ngoại tệ. Nhà nước đang mua ròng ngoại tệ các tháng qua. Với tầm nhìn rộng hơn, nhà nước đã có sự điều chỉnh chỉ đạo Chính sách tài khóa và Chính sách Tiền tệ sát sao, song hành với nhau hơn. Đây chính là niềm hy vọng, đa số các ý kiến cho rằng điều này sẽ giúp kiềm chế lạm phát năm 2012.

Kết luận của buổi bàn luận đa số bạn bè tham gia đã nêu dự báo như sau cho kinh tế Việt Nam năm 2012:

G D P  tăng 6,2%
Lạm Phát ở mức 12-15%.

Các bạn thống nhất sẽ ghi nhớ các dự báo hàng năm để xem xét và học hỏi đào sâu thêm kỹ năng dự báo để mỗi cuộc gặp gỡ giao lưu càng có thêm ý nghĩa.


PVH