Wednesday, 12 December 2012

"ÍT CẢM XÚC" và "HẠNH PHÚC"





Theo kết quả được khảo sát trên 150 nước, Việt nam ta được xếp thứ 13 trong những nước ít cảm xúc nhất.
Đó là kết quả nghiên cứu của hãng khảo sát quốc tế Gallup công bố cuối tháng 11/2012.

Không biết kết quả nghiên cứu này có giúp ích gì cho những người liên quan, hoặc người quan tâm tới tình hình đất nước ta; chúng ta cũng không biết được mục đích nghiên cứu này là để làm  gì?. Nếu tạm chấp nhận dân ta ít cảm xúc thì có thể thấy được mặt tích cực từ việc này như sau:
- Làm việc sẽ hiệu quả hơn, vì ít để cho cảm xúc xáo trộn chen lấn.
- Giao thông sẽ giảm bớt tai nạn đi do người dân tập trung khi điều khiển phương tiện hơn.
- Các cầu thủ đá banh của ta sẽ giành chiến thắng nhiều hơn do gan lì hơn trong các trận sống mái một mất một còn.
- Nghề hành khất sẽ giảm đi nhiều do người ta bớt bố thí theo cảm tính.
- Con người ta rồi đây sẽ gần giống với robot thế hệ mới hơn, vì có thể làm được nhiều việc nhưng không có cảm xúc (ví dụ: sợ hãi hay nóng nãy, yêu thương, giận hờn, căm thù...).
- Tệ mãi lộ cho trong ngành cảnh sát giao thông sẽ giảm đi do các chiến sĩ sẽ không động lòng trước khoản tiền lót tay của các tài xế vi phạm luật giao thông.
- Rồi nhiều người dân bức xúc khiếu kiện việc gì đó ("một cách trái pháp luật") sẽ bị ngăn giữ và vãn hồi trật tự một cách mạnh mẽ hơn, cương quyết hơn, "máy móc" hơn.
...

Và rồi cũng có một hệ quả nữa từ việc dân ta ít cảm xúc là nước ta sẽ bị rút tên khỏi danh sách những nước có chỉ số "cảm nhận hạnh phúc" nhất thế giới. Chỉ số này cũng không giúp gì cho dân ta sung sướng thực sự hơn lên!!!

Vì ít cảm xúc cũng có nghĩa là không cảm nhận được hạnh phúc mà mình đang có, vì vậy còn đâu xứng đáng là cảm nhận được niềm hạnh phúc nhất nhì thế giới như điều tra của một tổ chức nước ngoài trước đây!.

"Hạnh phúc" và "ít cảm xúc" luôn đi trái chiều nhau là vậy. Các bạn có nhận xét gì và sẽ tin vào kết quả thống kê nào?

PVH

Friday, 7 December 2012

NỤ CƯỜI




Ngôn ngữ esperanto được đánh giá là khoa học và logic, thậm chí là dễ sử dụng đối với một số người, nhưng không thực dụng, do vai trò quan trọng của ngôn ngữ mẹ đẻ, đặc biệt là ngôn ngữ mẹ đẻ của những quốc gia hùng mạnh nhất về kinh tế và chính trị.

Quốc Tế Ngữ được sáng tạo bởi một học giả Ba Lan, Ludwik Lejzer Zamenhof trong khoảng 1872 tới 1885 tại Warszawa. Ludwik Lejzer Zamenhof am hiểu nhiều tiếng châu Âu, nhưng ông không hiểu nhiều về châu Á cũng như các ngôn ngữ của châu lục này. Vào thời điểm Quốc Tế Ngữ được sáng chế, ngôn ngữ này được kì vọng sẽ là ngôn ngữ phổ thông, được sử dụng trong mọi sinh hoạt hàng ngày của nhân dân toàn thế giới.

Sau hơn 100 năm hình thành và phát triển, tại thời điểm điều tra năm 1996, số người sử dụng Quốc Tế Ngữ như thứ tiếng thứ nhất chỉ là khoảng từ 200 cho tới 2.000 người. Có khoảng 2 triệu người khác trải khắp 115 quốc gia và vùng lãnh thổ sử dụng ngôn ngữ này như ngôn ngữ thứ hai của mình. Thực ra chúng ta không biết chính xác có bao nhiêu người sử dụng ngôn ngữ Esperanto là quốc  tế ngữ  trên thế giới này. Không biết được tính phổ dụng của ngôn ngữ này hiện nay đến đâu, có đúng như mong ước của người sáng tạo ra ngôn ngữ này hay không?

Từ vài thập kỉ nay, quốc tế ngữ được sử dụng để dịch những cuốn Kinh thánh. Những người được nhà thờ Công giáo La Mã dịch Kinh thánh sang Quốc Tế Ngữ, thường là những nhân vật có tiếng tăm với dân chúng trong vùng. Một vài trong số họ cũng chính là những người có công hoàn thiện Quốc Tế Ngữ, logic hơn trước.
Tất nhiên có một từ  không cần phải thông qua esperanto mà ai cũng hiểu được đó là “nụ cười”.
Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ. Nụ cười làm cho khí huyết lưu thông tốt hơn, giảm đi phiền muộn, khiến cho mọi người thân thiện xích lại gần nhau, làm cho cuộc sống ngày càng tốt hơn. Cười nhiều, sống lâu. Không ai nở quở trách một phụ nữ đang cười.

Khi Việt Nam mở cửa, nhiều du khách tới Việt Nam đều ngạc nhiên là người dân nước này không tiếc ban phát nụ cười cho thiên nhiên và con người. Một hình ảnh từng gây ấn tượng cho một nhà báo nước ngoài khi chụp được  bức hình một cụ già móm mém cười hết cở, hỏi ra mới biết cụ già này đang ung thư phổi giai đoạn cuối!!!

Vậy ra, nụ cười, không cần phiên dịch thì những người có quốc tịch khác nhau vẫn hiểu được, thậm chí còn có sức mạnh hơn cả khi được thể hiện bằng một từ chính xác trong tiếng Anh phổ dụng như “smile” của cụ già nói trên.

Vậy có thể nói: nụ cười không có biên giới  ngăn cách về ngôn ngữ.


PVH

Sunday, 2 December 2012

NOBEL KINH TẾ NĂM 2012





Nhiều lúc chúng ta tự hỏi tại sao giải Nobel về kinh tế thường lại được chọn trao cho các nhà khoa học Mỹ nhiều đến vậy? Đã có nhiều bài báo phân tích về hiện tượng này, và phần lớn các ý kiến phân tích đó được cho là có lý và đúng đắn. Tuy nhiên trong trường hợp của giải Nobel Kinh tế năm nay điều đặc biệt là hai nhà khoa học được xướng tên thực chất không phải là các nhà kinh tế, thậm chí họ còn phát biểu: "chúng tôi thậm chí chưa theo học một khóa nào giảng dạy về kinh tế". Thế thì tại sao họ lại được lựa chọn như là các nhà kinh tế học xuất sắc của nhân loại được đề cử nhận giải?
Câu trả lời hết sức đơn giản: họ là những nhà toán học, áp dụng toán học để giải các bài toán mang lại hiệu quả cụ thể cho xã hội, những bài toán có tên gọi "Cặp đôi" hay "Matching". Họ nghiên cứu toán học với niềm đam mê cao độ, theo đuổi và hoàn thiện những ý tưởng về các thuật toán có thể tạo nên "một thị trường mới" từ một bài báo nhỏ cách đây chừng 50 năm. Cái mà họ mang lại cho xã hội là hiệu quả kinh tế được công nhận và áp dụng rộng rãi, được các nhà kinh tế học tán thưởng, vì vậy họ xứng đáng nhận giải Nobel kinh tế mặc dù hai nhà khoa học này đơn thuần chỉ là nghiên cứu về các thuật toán.

Nếu đưa thuật toán của hai nhà toán học này so sánh với các công trình toán học của các nhà toán học khác thì có thể thấy các thuật toán của các "Tân Nobel Kinh tế" không có gì mới mẻ cho lắm, và khó xứng đáng gọi là nghiên cứu đột phá trong toán học. Nhưng một công trình toán học dẫu có đồ sộ đến thế nào, sâu sắc đến bao nhiêu mà không giúp ích gì cho xã hội thì khó có thể gọi công trình đó có giá trị thực tiễn.
Vậy hai nhà toán học trên, với công trình mang tính thực tiễn của mình rất xứng đáng nhận giải Nobel Kinh tế.
Đó chính là điều mới mẽ mang tính thực dụng của các nhà khoa học Mỹ.
Một lần nữa chúng ta hãy đọc lại bài viết về hai nhà khoa học này trên báo vnexpress.

PVH
Vào 6h chiều 15/10 (giờ Hà Nội), Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển công bố chủ nhân của giải Nobel Kinh tế học năm nay, thuộc về Alvivin E.Roth Đại học Harvard (Mỹ) và Lloyd S.Shapley, Đại học California (Mỹ).
Nghiên cứu đạt giải của hai ông đề cập về "Lý thuyết phân phối ổn định và thực tiễn về tạo lập thị trường". Từ đó, đưa ra phương pháp khớp các tác nhân kinh tế khác nhau như học sinh với trường học hay thậm chí là người hiến nội tạng với bệnh nhân.
Hai tác giả đoạt giải Nobel Kinh tế 2012.
Hai tác giả đoạt giải Nobel Kinh tế 2012, ông Lloyd S.Shapley (phải) và Alvivin E.Roth.
Alvivin E.Roth sinh năm 1951, hiện giảng dạy môn Kinh tế và Quản trị Kinh doanh tại Đại học Harvard (Mỹ). Ông nổi tiếng với các đóng góp về lý thuyết trò chơi, tạo lập thị trường và kinh tế học thực nghiệm.
Lloyd S.Shapley sinh năm 1923, hiện giảng dạy môn Toán và Kinh tế học tại Đại học California (Mỹ). Ông được rất nhiều chuyên gia kinh tế coi là biểu tượng của "Lý thuyết trò chơi".
Lloyd Shapley sử dụng "Lý thuyết trò chơi hợp tác" để nghiên cứu và so sánh các phương pháp ráp nối khác nhau. Vấn đề cốt lõi ở đây là phải đảm bảo sự ráp nối thật ổn định giữa hai yếu tố tham gia. Vì vậy, Sharpley và các đồng nghiệp đã đưa ra một phương pháp đặc thù mà ông gọi là Thuật giải Gale-Shapley. Phương pháp này cũng hạn chế khả năng điều khiển quá trình ráp nối của các yếu tố. Nhờ đó, ông có thể chỉ ra bằng cách nào phương pháp thiết kế đặc thù có thể làm lợi một cách có hệ thống cho một hoặc cả hai mặt của thị trường.
Alvin Roth thừa nhận các nghiên cứu lý thuyết của Sharpley có thể làm sáng tỏ hoạt động của thị trường trong thực tế. Bằng một chuỗi nghiên cứu thực nghiệm, Roth và các đồng nghiệp đã chứng minh được rằng ổn định là chìa khóa để hiểu rõ sự thành công của một thể chế thị trường nhất định. Sau đó, ông chứng minh kết luận này thông qua nhiều thí nghiệm có hệ thống. Roth cũng giúp tái lập các phương pháp ráp nối hiện tại giữa bác sĩ và bệnh viện, học sinh với trường học và thậm chí là người hiến nội tạng với bệnh nhân. Những cải tổ này đều dựa trên Thuật giải Gale-Shapley, kèm theo một số điều chỉnh trong từng trường hợp riêng biệt và ràng buộc về đạo đức.
Cũng như những người đoạt giải Nobel khác, hai nhà khoa học này sẽ được trao giải thưởng trị giá 8 triệu kronor Thụy Điển (tương đương 1,2 triệu USD).
Năm 2011, Nobel Kinh tế được trao cho hai nhà khoa học người Mỹ là Thomas J. Sargent - nhà kinh tế học chuyên nghiên cứu kinh tế vĩ mô, và tiền tệ và Christopher A. Sims - Đại học Princeton. Nghiên cứu của hai ông nói về mối quan hệ giữa chính sách kinh tế vĩ mô và tác động của chúng lên nền kinh tế.

Friday, 30 November 2012

PHÔ TRƯƠNG




Có nhiều cách phô trương.
- Phô trương thanh thế;
- Phô trương kiến thức;
- Phô trương cơ thể;
- Phô trương con cái;
- Phô trương mối quan hệ xã hội;
- Phô trương nguồn gốc gia tộc;
- Phô trương sức khỏe;
- Phô trương tài năng đặc biệt;
...
Trừ loại phô trương của các nhà quản lý chính trị, quân đội sử dụng như là một chiến thuật để đưa lại thắng lợi trong tình huống cụ thể (đưa lại lợi ích cho dân tộc, đất nước) được coi là "mưu kế" thì các loại phô trương khác được cho là "khoe khoang", bị dư luận phê phán.
Hiện nay, ở Việt Nam có rất nhiều người có ham muốn phô trương tiêu dùng, mặc dù đất nước ta còn nghèo. Thì ra, tiêu dùng phô trương thực chất là một thuật ngữ "kinh tế học" đã được nghiên cứu kỹ. Xin hãy đọc những dòng định nghĩa và phân tích về nó trên trang wikipedia.

Tiêu dùng phô trương (một số tài liệu ở Việt Nam còn gọi là sự tiêu dùng nhằm thể hiện, sự tiêu dùng nhằm khoe khoang, sự tiêu thụ trưng phô) là một thuật ngữ kinh tế học để chỉ một loại hành vi tiêu dùng. Người ta tiêu dùng để cho mọi người xung quanh thấy mình ở địa vị xã hội nào đó, dù thực có địa vị xã đó hay không. Thuật ngữ này (tiếng Anh: conspicuous consumption) do Thorstein Veblen (1857-1929) đặt ra vào năm 1899 trong tác phẩm The Theory of the Leisure Class. Trong tác phẩm này, Veblen mô tả hành vi tiêu dùng của tầng lớp mới giàu (Veblen gọi họ là leisure class trong tác phẩm của mình) cuối thế kỷ 19 nhờ công nghiệp hóa ở Hoa Kỳ.
Nhiều nghiên cứu thống kê đã cho thấy tiêu dùng phô trương là có trong thực tế. Chẳng hạn, Charles et al (2007) cho thấy người gốc Phi và người gốc Mỹ Latinh ở Hoa Kỳ có xu hướng dành một tỷ lệ lớn chi tiêu của mình cho những hàng hóa trưng diện được (như ô tô, quần áo, đồ trang sức) hơn so với người da trắng có cùng mức sống. Grossman and Shapiro (1988) tìm hiểu thấy có những người sẵn sàng mua hàng nhái (hàng gắn nhãn hiệu nổi tiếng nhưng không phải do hãng sở hữu nhãn hiệu đó sản xuất thực) hơn là mua hàng có cùng chất lượng nhưng không gắn nhãn hiệu nổi tiếng chứng tỏ họ cần nhãn hiệu để thỏa mãn nhu cầu trưng phô.
Nguyên nhân dẫn tới hành vi tiêu dùng phô trương được Veblen chỉ ra là: 1) sự ghen tỵ (envy) - người kém thành đạt muốn phô trương để che giấu sự kém thành đạt; và 2) sự kiêu hãnh (pride) - người ta muốn có danh tiếng thông qua phô trương để cho công việc của mình suôn sẻ hơn. Các nhà kinh tế học ngày nay dùng lý thuyết trò chơi để giải thích hành vi tiêu dùng này, chẳng hạn Friedman and Ostrov (2008). Các nhà kinh tế học và tâm lý học chỉ ra rằng hành vi tiêu dùng phô trương phụ thuộc vào kinh nghiệm, nhận thức và cả ý thức canh tranh của người tiêu dùng.
Liên quan đến hành vi tiêu dùng phô trương, Veblen còn giới thiệu một khái niệm khác, gọi là hàng hóa Veblen. Đây là loại hàng hóa mà giá cả của chúng càng cao thì càng hấp dẫn người mua, bởi vì giá cả chính là thước đo của sự kiêu hãnh.

Hàng hóa Veblen là những hàng hóa mà lượng cầu về chúng tăng lên khi giá của chúng tăng và lượng cầu về chúng sẽ giảm nếu giá của chúng giảm. Đối với hàng hóa thông thường, thì lượng cầu sẽ giảm nếu giá hàng tăng. Veblen là đặt theo tên của nhà kinh tế Thorstein Veblen (1857-1929), người đã nêu ra thuyết tiêu dùng phô trương.
Những hàng hóa thường được liệt vào nhóm hàng hóa Veblen là xe ô tô sang trọng, đồ trang sức đắt tiền, tác phẩm nghệ thuật của các tác giả nổi tiếng, rượu vang đắt tiền, v.v... Những người có hành vi tiêu dùng phô trương sẽ xem giá hàng là một tín hiệu của địa vị và động cơ tìm kiếm địa vị của họ khiến họ thích những mặt hàng đắt tiền. Mặt hàng càng đắt tiền thì mức độ thích thú của họ đối với mặt hàng càng lớn, thỏa dụng mà tiêu dùng mặt hàng đem lại càng lớn, và vì thế lượng cầu đối với mặt hàng càng cao.
Những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy trong thực tế có hiện tượng người ta cảm thấy hạnh phúc hơn khi tiêu dùng mặt hàng đắt tiền hơn. Lại có nghiên cứu cho thấy rằng việc tiêu dùng hàng hóa Veblen của một người chịu sự tác động của việc tiêu dùng hàng hóa Veblen của những người xung quanh.
Chú ý là có những mặt hàng mà lượng cầu tăng khi giá của chúng tăng nhưng lại không phải là hàng hóa Veblen. Lượng cầu về hàng hóa Veblen tăng lên cùng với sự lên giá mặt hàng là vì thỏa dụng mà hàng này đem lại lớn hơn khi giá hàng tăng. Những mặt hàng mà lượng cầu tăng khi giá tăng vì thu nhập thực tế của người tiêu dùng bị giảm gọi là hàng hóa Giffen.

Tiêu dùng "phô trương" với tiêu dùng "không phô trương" được điều chỉnh bởi chính chủ thể cá nhân, có liên quan đến tầm văn hóa của chủ thể đó.
Tầm văn hóa của chủ thể cao thì chủ thể đó sẽ giảm đi sự muốn thể hiện phô trương; ngược lại tầm văn hóa của chủ thể thấp thì mong ước và ý chí muốn phô trương lại càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Ông bà ta từng nói "Chiếc áo không làm nên thầy tu" chắc là để giáo dục con cháu tiết chế sự phô trương tồn tại trong mỗi con người chúng ta.
  
PVH

Tuesday, 27 November 2012

TRẺ EM LAO ĐỘNG SỚM, CẦN ĐƯỢC BẢO VỆ



Đã từ lâu, bên cạnh những trẻ em có hoàn cảnh gia đình giàu có, chỉ biết học hành ăn chơi thì luôn tồn tại một bộ phận trẻ em nghèo, mưu sinh kiếm sống bằng nhiều nghề khác nhau, đặc biệt là ở các thành phố lượng lao động trẻ em càng nhiều. Hầu hết các em này đều thất học hoặc bỏ học sớm và gia đình nghèo khổ, hoàn cảnh đặc biệt. Công việc các em thường làm như: đánh giày, bán vé số, bán báo, bán hàng rong trên đường phố, ăn xin, làm thuê cho các cơ sở tư nhân hay chủ xưởng,…

Theo Bà Phan Thanh Minh - Trưởng Ban chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, Ủy ban Dân số - gia đình và trẻ em TP.HCM - cho biết vấn đề kinh tế là nguyên nhân chính yếu dẫn tới việc trẻ phải lao động sớm, 53,6% trẻ có hoàn cảnh gia đình quá nghèo khó, 23,6% muốn có tiền để tự tiêu dùng riêng... chỉ 9,7% trẻ em bị gia đình bắt phải đi làm.
          Thiết nghĩ, trẻ lao động sớm đóng góp được khá nhiều cho kinh tế gia đình, tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống gia đình, thậm chí có những em là thu nhập chính trong gia đình. Như vậy, việc lao động của các em là góp phần xây dựng gia đình, đỡ gánh nặng cho bố mẹ.
          Tuy nhiên, điều đáng nói là các em phải lao động rất cực nhọc và độc hại, làm việc quá sức và quá giờ qui định, làm việc cả ngày chủ nhật và làm việc nhiều vào ban đêm… Vì hoàn cành gia đình cùng cực, quá khó khăn, ngặt nghèo, nên các chủ xưởng, các cơ sở tư nhân ra sức lợi dụng bóc lột sức lao động các em bằng cách tăng thời gian làm việc, giao các công việc nặng nhọc, trong khi trả thù lao cho các em những đồng lương rất ít ỏi.
          Không còn sớm nữa, các cơ quan chức năng nên có các giải pháp kịp thời cụ thể, nên làm dứt điểm để cứu các em, nên có qui định về lao động trẻ em,  đưa ra khung phạt rõ ràng cho những cá nhân, tập thể lợi dụng, bóc lột trẻ em cũng như phạm vi cụ thể trong việc sử dụng trẻ em lao động; hỗ trợ các gia đình nghèo ngay tại địa phương.
          Và hơn bao giờ hết, trong lúc chờ đợi sự quan tâm của các cơ quan chức năng thì các cá nhân, tổ chức hảo tâm nên kết hợp với chính quyền địa phương giúp các em có sự ổn định công việc,  phần nào trả lại sự công bằng cho các em. Như tạo điều kiện để các em có thể vừa học vừa làm; có biện pháp cụ thể để đào tạo hướng nghiệp cho trẻ, đồng thời trang bị kiến thức, kinh nghiệm để các em tránh những tệ nạn, bảo vệ các em không bị xâm hại.

H.S

Sunday, 25 November 2012

Một khoảnh khắc và cả cuộc đời




Cuộc sống chẳng là gì, nhưng một khoảnh khắc lại có thể làm nên tất cả!
Có khi cuộc sống không là gì cả nhưng một khoảnh khắc lại là tất cả! Và những khoảnh khắc ấy là những miếng ghép cho cuộc sống, dần dà chúng hiện lên theo năm tháng tạo nên một bức tranh to hơn, rộng hơn mà khi càng khôn lớn, con người ta ai cũng muốn vẽ lên đó những gam màu tươi sáng nhất định. Khoảnh khắc ấy là nước mắt…
 Khi lắng nghe tiếng khóc chào đời của bạn, cha mẹ bạn đã khóc, vì có một sinh linh bé nhỏ đã chào đời. Trong khoảnh khắc linh thiêng ấy, bạn là món quà mà tạo hóa ban cho cuộc đời, để cha mẹ thêm yêu thương gắn bó, cho một nụ cười nhăn nheo trên đôi mắt ông bà. Một khoảnh khắc tạo nên cuộc đời…
Khoảnh khắc ấy là niềm vui…
Khi bạn nói nói được một từ đầu tiên, cha mẹ đã rất vui. Đó là vì bạn đã bắt đầu gõ cửa một thế giới mới. Những tiếng đầu tiên, ôi thiết tha làm sao. Trẻ con dễ thương bởi giọng nói của chúng, những từ ngữ trong sáng, làm bố mẹ quên đi cả những nỗi vất vả cực nhọc đời thường. Một khoảnh khắc vượt lên trên cuộc đời…Khoảnh khắc ấy là nỗi buồn…
Khi bạn thất bại trong kì thi học sinh giỏi, bạn đã khóc và nghĩ rằng chưa bao giờ lại thấy buồn và thất bại như thế này. Nhưng rồi cha mẹ vẫn bên bạn, động viên an ủi bạn, cho bạn hơi ấm, tình thương cũng như một chỗ dựa để bạn có thể vững bước hơn nữa trên đường đời. Một khoảnh khắc khắc sâu trong tim rằng cả cuộc đời đâu mãi chỉ có niềm vui…
Khoảnh khắc ấy là sự tin tưởng…
Đó là ngày nhận tin báo con đỗ Đại học, mẹ đã cố gắng dành dụm đủ tiền để con lên thành phố học. Mẹ lo cho con, cuộc sống nơi thành thị, rời xa vòng tay cha mẹ. Liệu con có làm được không? Mẹ yên tâm, con sẽ làm được. Chim non sẽ cất cao đôi cánh, bay khỏi tổ và đi đến với bầu trời tự do phải không mẹ? Cha không nói gì nhưng trong mắt cha là niềm vui, là sự tin tưởng rằng con sẽ làm được và làm tốt đúng không ba? Một khoảnh khắc mở ra một cánh cửa mới trong hành trình gian nan đi đến cuối con đường mang tên cuộc đời…
Khoảnh khắc ấy là sự yêu thương…
 Chứng kiến đứa con bé bỏng ngày nào lớn khôn, giờ đã thành cô dâu, chú rể rồi, mẹ đã khóc thầm. Những giọt nước mắt hạnh phúc khi mà mẹ tin rằng đàn con của mẹ nay đã lớn khôn, đã bay đi xa. Nhưng mẹ ơi, tổ ấm nơi này vẫn luôn là mái nhà của chúng con. Chúng con vẫn sẽ luôn hướng về tổ ấm này. Vì nơi ấy con biết vẫn có vòng tay cha mẹ vỗ về… Con tin tưởng người đàn ông này, con tin tưởng người phụ nữ này, người sẽ mang lại hạnh phúc trong suốt phần đời còn lại cho con. Vậy nên cha mẹ hãy yên tâm nhé!
Con lớn rồi!
 Một khoảnh khắc mà những niềm vui, nỗi buồn giao nhau, hòa quện, trộn lẫn trong cuộc đời… Khoảnh khắc ấy là sự mất mát…
Sự lớn khôn của con đổi lấy những nếp nhăn trên vầng trán cha, những sợi bạc trên mái đầu mẹ. Và khi con cái đã lớn khôn, cha mẹ ra đi, cho đến lúc này mới được nhìn thấy nụ cười mãn nguyện trên môi cha. Vì cha biết con đã sống tốt và làm được những gì cha mong ước. Nhưng con biết cha mẹ sẽ dõi theo chúng con, vẫn sẽ yêu thương các con như ngày nào…
 nào…
Khoảnh khắc ấy chỉ trọn vẹn một nỗi buồn. Một nỗi buồn cho một cuộc sống tiếp diễn…
Lá rụng về cội… Và khi chiếc lá rụng về nơi vốn sinh ra nó, ấy là kết thúc một chu trình cuộc đời. Nhưng hãy biết rằng bức tranh này sẽ lại có những thế hệ tiếp theo vẽ tiếp. Làm cho nó rộng hơn, sáng hơn và tươi hơn bao giờ hết.
Nhưng rồi trong số những gam màu sáng, hãy có những gam màu tối đan xen, để tổng thể bức tranh không quá chói lòa, chỉ vừa vặn đủ để có một nụ cười…
Cả cuộc sống chẳng là gì, nhưng một khoảnh khắc lại có thể làm nên tất cả!
Trân trọng cuộc đời để thấy yêu thương nhiều hơn bạn nhé!

Ngọc Thủy
( st)

Thursday, 22 November 2012

Ỷ LẠI VÀ THỤ ĐỘNG



Người xưa đã dạy rằng: Ngọc nào chẳng có vết. Nhưng đối với con người một trong những ham muốn là vươn lên để hoàn thiện bản thân. Trên hành trình hoàn thiện ấy, một trong những việc cần làm là phải tìm ra nhược điểm, những thói hư tật xấu để sửa và loại bỏ những cái đó. Có biết bệnh mới tìm ra thuốc chữa. Một trong những nhược điểm đó hầu như trong cơ quan, xí nghiệp, tổ chức nào cũng có: đó là thói ỷ lại và sự thụ động trong công việc của không ít người.
Có thể hiểu ỷ lại là sự trông chờ, thậm chí phó mặc cho người khác công việc đúng ra mình phải thực hiện. Cũng như thụ động là sự chậm chạp trong suy nghĩ, lười biếng trong tư tưởng. Thậm chí là bị động trước sự thay đổi  chỉ trông chờ vào người khác. Có thể thấy ỷ lại và thụ động là cặp phạm trù không thể tách rời nó xuất hiện ở những nhân viên lười biếng, quen hưởng thụ không chịu lao động và hơn hết là không có ý thức.
Đối với một tổ chức, những người có tính ỷ lại và thụ động sẽ làm cho tổ chức đó khó phát triển thậm chí là đi lùi, nó sẽ nảy sinh những tiêu cực không đáng có. Tác hại hơn là căn bệnh ỷ lại và thụ động giống như căn bệnh truyền nhiễm nó lây lan từ người này sang người khác. Ví như, nó không làm mà vẫn bình thường công việc đã có người khác làm, vậy mình làm chi cho nhọc công. Thụ động và ỷ lại có rất nhiều người chịu thiệt, công sức họ bỏ ra không được đánh giá công bằng. Nguy hiểm hơn nó còn gây hoang mang trong tư tưởng của tổ chức.
Để tránh và chống lại căn bệnh ỷ lại và thụ động trong công việc trước tiên phải cố gắng và nổ lực hết mình để tự hoàn thiện cũng như để những người nhiễm phải căn bệnh ấy phải tự hỗ thẹn với chính họ, cũng như mình làm gương cho họ noi theo. Có nhiều con đường để hoàn thiện bản thân nhưng con đường nào cũng cần sự nhiệt huyết, sự đam mê và thái độ tích cực cũng như chủ động. Và rõ ràng con đường ấy không chấp nhận sự ỷ lại, thụ động trong suy nghĩ cũng như hành động. Và có những con người nỗ lực hết mình để hoàn thiện thì khi đó tổ chức hoặc tập thể mới ngày một phát triển đi lên được.

ĐN